Ca lâm sàng tăng huyết áp dùng thuốc giảm đau NSAID

Danh sách các thuốc gây tăng huyết áp

Bà B., 59 tuổi, được điều trị tăng huyết áp bằng Aldactazine (spironolactone - thuốc lợi tiểu giữ kali) và Triatec 10 mg (ramipril - ức chế men chuyển). Bà thường xuyên theo dõi huyết áp bằng máy đo huyết áp tự động và chỉ số huyết áp bà duy trì quanh mức 135/85. 6 tháng trước, bà đã đi gặp 1 bác sĩ chuyên khoa khớp để khám tình trạng thoái hóa đốt sống cổ mà bà đang phải chịu đựng. Bác sĩ này đã kê cho bà 1 thuốc chống viêm Bi-profenid (ketoprofen) dùng 20 ngày/tháng để giảm đau. Ngày hôm nay, bà mang tới một toa thuốc mới do bác sĩ điều trị của bà kê: Aldactazine, Triatec, Loxen 10 và 20 (nicardipine hydrochloride - thuốc chẹn kênh calci). Bà B. giải thích cho bạn biết rằng: Bà đã phát hiện chỉ số huyết áp trung bình (sau 3 lần đo) gần đây tăng lên 145/95 khi bà tiến hành kiểm tra huyết áp như thường lệ trước khi đi bác sĩ khám lại. Sau thăm khám, bác sĩ điều trị của bà đã khẳng định vấn đề tăng chỉ số huyết áp, do đó đã kê bổ xung thêm thuốc mới.

Đọc tiếp »

Ca lâm sàng Tăng huyết áp gặp ADR Sưng bàn chân và mắt cá do dùng thuốc chẹn canxi

Sung chan

Bà A., 71 tuổi, đã được điều trị bằng Célectol 200 (celiprolol hydrochloride) và Hyperium (rilmenidine) 5 năm nay. Ngoài ra bà còn thường xuyên dùng Daflon 500 (vitamine P). Trong lần thăm khám gần nhất, huyết áp của bà đã tăng lên: 160/100. Bác sỹ điều trị đã thêm Loxen LP (nicardipine hydrochloride) vào đơn thuốc của bệnh nhân. Sau năm ngày, bà A. trở lại hiệu thuốc để mua Doliprane (paracetamol 500mg) vì bị nhức đầu và chỉ cho dược sĩ thấy mắt cá chân của bà đang bị sưng phồng. Theo lời khuyên của dược sĩ, bà trở lại gặp bác sĩ của mình. Bác sĩ điều trị thường xuyên của bà đang đi nghỉ phép, vì vậy bà đã tới 1 phòng khám gần đó. Bà quay lại hiệu thuốc vào ngày hôm sau với toa thuốc có Lasilix 20 (furosemide).

Đọc tiếp »

Quy định mới về ghi thông tin khuyến cáo cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên nhãn thuốc

Quy định mới về nhẵn thuốc

Ngày 3/12/14 FDA đã ban hành quy định về "Nội dung và hình thức ghi trên nhãn thuốc kê đơn và các sản phẩm sinh học; các yêu cầu nhãn thuốc cho phụ nữ mang thai và cho con bú" (Content and Format of Labeling for Human Prescription Drug and Biological Products; Requirements for Pregnancy and Lactation Labeling), tham khảo thêm tại “Quy định ghi thông tin khuyến cáo cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên nhãn thuốc” (Pregnancy and Lactation Labeling Rule - PLLR). Theo PLLR yêu cầu cần thay đổi nội dung và hình thức trình bày của nhãn thuốc đối với các thuốc kê đơn nhằm hỗ trợ cho các bác sỹ, các nhân viên y tế đánh giá được nguy cơ và lợi ích của thuốc để từ đó cân nhắc việc dùng thuốc trên phụ nữ mang thai và cho con bú, vốn là những đối tượng có thường xuyên sử dụng thuốc, do đó cần cho họ biết về loại thuốc họ cần dùng ảnh hưởng như thế nào tới họ và em bé. Theo PLLR đã xóa bỏ hình thức phân loại nhóm cũ theo chữ cái A, B, C, D và X và bổ sung yêu cầu các nhãn thuốc phải thường xuyên cập nhật thông tin mới.

Đọc tiếp »

Ca hạ glucose máu về đêm tái phát ở bệnh nhân đái tháo đường typ 1

Hinh 2

NHỮNG ĐIỀU CẦN NHỚ: Chứng hạ glucose máu là thông thường ở bệnh nhân ĐTĐ và nguyên nhân thường gặp nhất là sự dư thừa insulin tuyệt đối hay tương đối. Loạn dưỡng mỡ dưới da tại nơi tiêm có thể tác động tới sự hấp thu insulin và có thể làm nồng độ glucose không ổn định. Chậm tháo rỗng dạ dày (30%-40% ở bệnh nhân ĐTĐ) gây ra bởi liệt dạ dày có thể gây hạ glucose máu. Kháng thể kháng insulin và việc lén lút sử dụng insulin ngoại sinh có thể làm tăng nồng độ insulin bất hợp lí trong hạ glucose máu. Hạ glucose máu giả tạo là thách thức lớn với chẩn đoán và điều trị. Nó nên được xem là một chẩn đoán phân biệt trong hạ glucose máu không rõ nguyên nhân và là một chẩn đóan loại trừ (chẩn đoán khẳng định sau khi đã loài trừ các nguyên nhân khác). Đo lường nồng độ peptide C và insulin trực tiếp và tự do có thể giúp phân biệt hạ glucose giả tạo với các nguyên nhân khác. Nồng độ insulin cao với sự tăng tỉ lệ insulin trực tiếp/tự do ghi lại trong các cơn hạ glucose gợi ý một nguyên nhân là do lạm dụng insulin.

Đọc tiếp »

Bước đột phá lớn trên con đường tìm kiếm kháng sinh mới

iChip- công cụ hỗ trợ các nhà khoa học tìm ra Teixobactim

Việc phát hiện ra Teixobactin có thể mở ra một con đường, một phương thức mới trong việc tìm kiếm một thế hệ kháng sinh mới. Teixobactin – thuốc kháng sinh mới đầu tiên được tìm ra trong gần 30 năm trở lại đây đã được ca ngợi như một sự “chuyển đổi mô hình” trong cuộc chiến chống lại sự gia tăng của đề kháng kháng sinh. Teixobactin được phát hiện thấy có hiệu quả trong điều trị nhiều lọai vi khuẩn thường gặp như bệnh lao, nhiễm trùng huyết và Clostridium difficile có thể sẽ có mặt trên thị trường trong vòng 5 năm tới. Nhưng quan trọng hơn, chúng có thể mở đường cho một thế hệ kháng ...

Đọc tiếp »

Tập san “Nhịp cầu Dược lâm sàng” N1 – Thuốc chống đông đường uống

Bia

Tập san Nhịp cầu Dược lâm sàng ra đời với mong muốn là nơi tổng hợp, chia sẽ những thông tin mới, thiết thực hỗ trợ cho công tác Thực hành, Đào tạo và Nghiên cứu Dược lâm sàng tại Việt Nam. Tập san được thành lập từ sự hợp tác của các dược sĩ có kinh nghiệm trong các lĩnh vực khác nhau (thực hành, giảng dạy, nghiên cứu), trong và ngoài nước, cũng như các sinh viên dược trẻ đầy tài năng, nhiệt huyết với mục đích hoàn toàn phi lợi nhuận. Cụ thể, sự hợp tác là hoàn toàn tự nguyện và Tập san có thể truy cập hoàn toàn miễn phí.

Đọc tiếp »

FDA phê duyệt kháng sinh mới Zerbaxa

zerbaxa-620x400

Ngày 19/12/2014 cơ quan quản lí thực phẩm và dược phẩm Hoa kì (FDA) phê duyệt kháng sinh mới Zerbaxa (gồm 2 thành phần: ceftolozane - kháng sinh nhóm cephalosporin và tazobactam - chất ức chế enzym beta-lactamase) cho chỉ định: nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng (complicated intra-abdominal infections - cIAI) phối hợp với metronidazole và nhiễm trùng tiết niệu có biến chứng (complicated urinary tract infections - cUTI), bao gồm nhiễm trùng thận (viêm bể thận).

Đọc tiếp »

Ca lâm sàng: Tăng Creatin Kinase huyết thanh

MÔ TẢ CA Bệnh nhân nam da trắng 38 tuổi làm nghề lái xe taxi được bác sỹ gia đình chuyển tới bệnh viện làm các xét nghiệm để điều trị bệnh tăng lipid hỗn hợp. Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá 20 năm nay. Bố của bệnh nhân tử vong do nhồi máu cơ tim năm 55 tuổi. Thăm khám thấy bệnh nhân có huyết áp 136/99mmHg và chỉ số khối cơ thể (BMI) là 29 kg/m2, không có dấu hiệu lâm sàng của tăng lipid máu. Xét nghiệm cholesterol cho thấy lượng cholesterol toàn phần trong huyết thanh là 251 mg/dL (tương ứng 6.5 mmol/L; giá trị bình thường: 3.7–7.0 mmol/L), nồng độ HDL-C là 30.9 mg/dL (tương ứng 0.8 mmol/L; giá trị bình thường: 0.7–1.8 mmol/L), và triglycerid là 539 mg/dL (tương ứng 6.1 mmol/L; giá trị bình thường: <1.7 mmol/L), các kết quả cho thấy bệnh nhân có mắc hội chứng rối loạn chuyển hóa. Nguy cơ tim mạch 10 năm của bệnh nhân lớn hơn 20%, do đó bệnh nhân được chỉ định dự phòng tăng lipid máu nguyên phát bằng một statin, sau khi thay đổi lối sống (1). Xét nghiệm sinh hóa thường quy trước khi bắt đầu sử dụng statin cho thấy hoạt độ creatin kinase huyết thanh (CK) của bệnh nhân là 889 U/L (giá trị bình thường: 24–195 U/L) và hoạt độ men alanin aminotransferase (ALAT) là 61 U/L (giá trị bình thường: < 50 U/L). Kết quả của các xét nghiệm khác đều nằm trong khoảng giá trị bình thường: bilirubin toàn phần 0.8 mg/dL (tương ứng 13 µmol/L; giá trị bình thường: < 14 µmol/L); phosphatase kiềm, 95 U/L (giá trị bình thường: <150 U/L); và γ-glutamyltransferase 49 U/L (giá trị bình thường: <50 U/L). Các kết quả xét nghiệm khác (bao gồm chức năng thận, công thức máu, vitamin B12 huyết thanh, folat, điện di protein huyết thanh, kháng thể kháng nhân, protein phản ứng C và chức năng giáp trạng) đều bình thường. Mẹ của bệnh nhân lúc 30 tuổi được chẩn đoán có nhược cơ cẳng chân khiến cho không thể co chân được. Anh trai 48 tuổi và em trai song sinh 38 tuổi của bệnh nhân không có bệnh lý gì đặc biệt. Khi được hỏi, bệnh nhân thừa nhận là có hoạt động quá sức vào cuối tuần trước khi đến khám nhưng không thấy có gì bất thường. CÁC CÂU HỎI CẦN LƯU Ý Những nguyên nhân nào có thể gây tăng CK huyết thanh? Các xét nghiệm nào khác có thể giúp chẩn đoán xác định nguyên nhân gây tăng CK? Trong tiền sử gia đình của bệnh nhân, yếu tố nào nên được cân nhắc để giải thích cho các triệu chứng của mẹ bệnh nhân và việc tăng CK của bệnh nhân?

Đọc tiếp »

Ca báo cáo ADR: Ceftriaxone gây thượng bì nhiễm độc hoại tử tương tự vết thương do bỏng

Ceftriaxone

Tóm tắt Giới thiệu: Thượng bì nhiễm độc hoại tử là một rối loạn bong tróc da hiếm thấy có tỷ lệ tử vong cao. Khái quát ca lâm sàng: Một phụ nữ gốc Iran 70 tuổi biểu hiện thượng bì nhiễm độc hoại tử được chẩn đoán ban đầu là bỏng nóng. Tìm hiểu sâu hơn về bệnh sử cho thấy bệnh nhân có biểu hiện tổn thương lan rộng trong thời kỳ nằm viện và đã được sử dụng ceftriaxone trong vài ngày. Theo như kiến thức của chúng tôi thì đây là ca lâm sàng đầu tiên mà ceftriaxone gây bệnh thượng bì nhiễm độc hoại tử trong tài liệu tiếng Anh. Kết luận: Thượng bì nhiễm độc hoại tử là một rối loạn bong tróc da cấp tính, đe dọa tính mạng với tỷ lệ tử vong cao. Nghi ngờ lâm sàng cao, nhanh chóng ghi nhận và chăm sóc hỗ trợ ban đầu là bắt buộc. Điều tra triệt để cơ chế gây bệnh là nguyên tắc cơ bản, vẫn chưa có các hướng dẫn điều trị tối ưu.

Đọc tiếp »

Ca lâm sàng quá liều morphin ở bệnh nhân suy thận

Morphine

Bệnh nhân (BN) nữ 56 tuổi người Mỹ gốc Phi, được điều trị khẩn cấp tình trạng nhiễm khuẩn. Bệnh nhân nuốt khó, ăn uống qua ống PEG (ống xông dạ dày – tá tràng qua da), đau nặng thứ phát do loét vì tư thế nằm độ III- IV. Ngoài ra, BN còn có những triệu chứng đau khác gồm đau bỏng rát, đau nhói từ ngón chân đến đầu gối. Hiện tại BN cảm thấy rất khó chịu trong người, ước tính điểm đau ít nhất là 8-9/10 điểm.

Đọc tiếp »